19/02 Ý nghĩa nhân Ngày vía Quan Thế Âm Bồ Tát

          TRONG NĂM CÓ 3 LỄ VÍA QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

          Mỗi năm phật tử t
rên thế giới hay làm lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát thật trang trọng vào những ngày: 
- Ngày 19 tháng 2 là ngày Quán Thế Âm Đảng Sanh.
- Ngày 19 tháng 6 là ngày Quán Thế Âm thành đạo.
- Ngày 19 tháng 9 là ngày Quán Thế Âm xuất gia.
 

          SỰ TÍCH QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

          Đức Phật Thích ca Mâu ni lúc nói kinh Bi Hoa đã dạy là: Trong quá khứ đã từ rất lâu, đức Quan Thế Âm là thái tử con của vua Vô Tránh Niệm. Lúc đó có đức Phật danh là Bảo Tạng Như Lai nhận thức được đạo lý tối cao, Vua và Thái tử phát tâm Bồ đề to lớn, nguyện tu những hạnh Bồ tát, muốn thành Phật quả để giáo huấn và phổ độ chúng sinh.
          Bắt đầu Vua và Thái Tử là những thí chủ thành kính thờ cúng quần áo, trái cây, thuốc, mền – mùng và những món cần sử dụng lên đức Bảo Tạng Như Lai và chúng tăng ba tháng liền.
          Nhờ vào sự chân thành, tinh tấn không ngừng, vua Vô Tránh Niệm được chứng nhận thành Phật và phát bốn mươi tám lời thề nguyện to lớn để tế độ tất cả chúng sinh, Hiệu của Ngài là A-di-Đa.
          Thái tử cũng công hạnh tròn đầy và viên mãn nên cũng về cõi Cực Lạc thành bậc đại Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm cùng với Phật A Di Đà đi dẫn dắt chúng sinh về cõi Cực lạc.

 

          Ý NGHĨA TÊN GỌI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 
- QUAN là quan sát, tìm hiểu và biết rõ ràng về đối tượng.
- TH là cuộc đời, cuộc sống dân gian.
- ÂM là tiếng cầu cứu, tiếng thỉnh cầu phát ra từ những nơi khổ đau.
- BỒ TÁT là độ thoát cho loài hữu tình, giải cứu, hướng đạo cho chúng sanh, giúp họ đủ nghị lực vượt qua những cơ cực trong cuộc đời.
          Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đạt được diệu quả Nhĩ căn viên thông vì thế quan sát xét và cảm nhận và thấy được những tiếng kêu than tột cùng trong cõi nhân gian và xuât hiện lập tức ở chỗ đó để giải cứu họ vượt qua những kiếp nạn đó. Vì công hạnh cứu độ tự tại mầu nhiệm đó, vì thế trong kinh điển còn gọi là Quán tự tại Bồ tát. Theo tiếng Phạn Avalokitesvara Quan Thế Âm Bồ Tát tức là người luôn nghe tiếng kêu tha thiết từ tâm khảm chúng sinh trong trần gian mà tới cứu khổ. Mang lòng từ bi, nhân ái, vị tha và thánh thiện không phân biệt bất kỳ ai, nghĩa là người yêu thương tất cả chúng sanh trong thiên hạ cũng giống như hình ảnh của người mẹ luôn bao che và giúp đỡ cho các con của mình vì thế người được gọi là từ mẫu Quan Thế Âm Bồ Tát.Tay phải Ngài cầm nhành dương liễu, tay trái cầm bình nước Cam Lồ để tưới mát chúng sanh, trên đỉnh đầu có hình Đức Phật A Di Đà.
          Có rất nhiều hình tượng Quán Thế Âm như: Quan Âm Lộ Thiên, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn,…
          Hình tượng ngài được mô tả trong kinh Pháp Hoa là một người nam nhưng khi Phật giáo truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam, Bồ tát được tôn thờ hầu hết dưới dạng nữ thân, Ngài thương chúng sanh như mẹ thương con nên người ta thường tạc tượng Ngài mang hình dáng người nữ. Có nơi gọi Ngài là Mẹ Hiền Quán Thế Âm.

Hình tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt ngoài nguyên nghĩa thì còn tượng trưng cho Phật pháp,
dùng thần lực của nhà Phật để cứu độ chúng sinh muôn loài.


 
          Ý NGHĨA CÀNH DƯƠNG LIỄU VÀ TỊNH BÌNH CỦA QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

          Bồ-tát Quán Thế Âm tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương liễu. Quí vị tụng kinh Phổ Môn có câu “Nam-mô thanh tịnh bình thùy dương liễu Quan Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện”.
“Thanh tịnh bình” là bình thanh tịnh, “thùy dương liễu” là cành dương liễu rủ xuống, “Quan Âm Như Lai cam lồ sái tâm” là nước cam lồ của đức Quan Âm rưới lên tâm.
          Ý nghĩa nguyên câu ấy là bình thanh tịnh đựng nước cam lồ, nhờ cành dương liễu rưới khắp làm cho tâm người được mát mẻ. Đó là câu nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm mà chúng ta hằng lạy trong mười hai câu nguyện. Đây là những hình ảnh biểu trưng cho hạnh nguyện của Bồ-tát.
          Trong bình thanh tịnh chứa nước cam lồ, nước cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi. Nước này rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sanh. Đặc điểm của nước cam lồ là vừa ngọt vừa mát.
          Bình thanh tịnh là giới đức. Như phật tử giữ năm giới, nhờ giữ giới mà trong sạch thanh tịnh. Người không giữ giới không bao giờ có tình thương chân thật hay lòng từ bi. Ví dụ nhỏ như người phạm giới sát sanh có từ bi được không? Nếu phạm giới sát sanh không thể gọi là người từ bi. Hoặc người phạm giới trộm cắp, gọi từ bi được không? - Không. Cho tới phạm giới uống rượu, có từ bi được không? - Không. Vì từ bi phải đi đôi với trí tuệ sáng suốt, uống rượu vô say sưa rồi không thể nào sáng suốt được. Dân quê Việt Nam gọi mấy kẻ say là ba ngầu, lúc đó đã mất bình tĩnh, đâu còn tỉnh táo sáng suốt để làm điều tốt đẹp giúp người. Do đó phạm một trong năm giới thì không có lòng từ bi. Muốn lòng từ bi càng ngày càng tăng trưởng, đòi hỏi chúng ta phải giữ giới. Vì vậy giới đức thanh tịnh tượng trưng cho bình thanh tịnh. Từ bình thanh tịnh mới chứa được nước cam lồ. Con người có giới đức thanh tịnh mới chứa đựng lòng từ bi.
          Cành dương liễu yếu mềm dẽo dai nên khó gãy, gió chiều nào nó lay theo chiều đó nhưng không gãy. Những cành cây cứng gặp gió mạnh nó dễ gãy. Như vậy cành dương liễu biểu trưng cho đức nhẫn nhục. Muốn đem lòng từ bi ban rải cho chúng sanh được an vui mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi khó thực hiện được.
          Ví dụ như : Gần nhất như chùa Quan Âm ở đây, quí phật tử phát tâm xây dựng vì nghĩ mình cất ngôi chùa này để huynh đệ hướng tâm về Phật pháp có nơi chốn lễ Phật, tụng kinh, nghe pháp. Rồi lập hội Quan Âm để bảo trợ chùa, có đủ phương tiện tồn tại dài lâu. Đó là lòng từ bi. Có hội thì có họp. Họp thì bàn cãi, mà bàn cãi thì nhiều ý kiến bất đồng. Nếu quí vị thiếu lòng nhẫn nhục thì lòng từ bi có thể đổ vỡ. Khi chúng ta thương mọi người, muốn giúp họ đến với đạo để tu hành, tâm hồn được trong sạch an vui, đó là lòng từ bi. Nhưng nếu thiếu đức nhẫn nhục thì khó bảo vệ được Phật sự lâu dài, cho nên phải có đức nhẫn nhục. Khi có những bất đồng, có những người không hợp đạo lý, chúng ta cũng ráng ẩn nhẫn bỏ qua, để cùng hòa thuận với nhau giúp đỡ xây dựng nhau. Như thế khả dĩ Phật sự bền lâu được.

 

          VĂN KHẤN ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (PHẬT BÀ QUAN ÂM) 

          - Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
          - Con Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán thế Bồ Tát.
          - Con xin kính lạy đức Viên thông Giáo chủ thuỳ từ chứng giám. Tín chủ con là ....Ngụ tại...........
Hôm nay là ngày… tháng…..năm……………………………………………….................................................
          Tín chủ con thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Cửa hoa, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới toà sen hồng. Cúi xin được Đại sỹ không rời bạn nguyện, theo Phật phó chúc trên cung trời Đạo lợi, chở che cứu vớt chúng con và cả gia quyến như thể mẹ hiền, phù trì con đỏ.
          Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao.
          Được anh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử con cùng toàn thể gia quyến ba tháng đông, chín tháng hè luôn được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vương tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.
          Tín chủ con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
          Con Nam mô A di đà phật 

 

 
          (Sưu tầm)