1
Bạn cần hỗ trợ?

30/7 ngày vía Địa tạng vương bồ tát

       Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Địa Tạng hay cầm Như ý Châu và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Bồ Tát trong Lục đạo.
 

Tôn tượng Địa tạng vương bồ tát tại Đồi Kim Quy thuộc Hoa viên tưởng niệm Thiên Đức Phú Thọ
 
       Tại các nước Đông Á, Địa Tạng được xem là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quan Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Bồ Tát là Cửu Hoa Sơn. Tương truyền rằng, Địa Tạng đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi lâm chung, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ vị này, một bảo tháp mà ngày nay vẫn còn.
 

Cửu Hoa Sơn là một trong Tứ đại Phật giáo Danh sơn nổi tiếng vì có phong cảnh đẹp và những ngôi chùa cổ. Nơi đây là trú xứ của Bồ tát Địa Tạng
 
       Trước đây vô lượng kiếp, Địa Tạng là một Bà- la- môn và đã thệ nguyện trước một vị Phật thời đó là sẽ quyết tâm tu luyện đạt Phật quả, nhưng sẽ khước từ Phật quả này khi chưa cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi luân hồi. Trong một tiền kiếp, Bồ Tát là một cô bé có một bà mẹ thường hay sát sinh để kiếm sống. Sau khi mẹ qua đời, cô bé này ngồi thiền mãi cho đến khi nghe một giọng nói, khuyên cô nên niệm danh đức Phật. Sau đó, cô nhập định, xuống ngay đến cửa địa ngục. Nơi đây, cô được cho biết rằng, chính vì công phu thiền định và niệm Phật mà cô đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.
 

Nhục Thân tháp còn gọi là Nhục Thân Bảo điện, tọa lạc tại đỉnh Thần Quang trên Cửu Hoa sơn. Cứ ngày rằm và 30/7 (tương truyền là ngày sinh và ngày đắc đạo của Địa Tạng) tín đồ Phật giáo lại đến triều kiến Nhục Thân tháp rất đông.

       Nhờ thần thông, Địa Tạng Bồ Tát có thể biến hóa thành nhiều dạng để cứu chúng sinh trong lục độ. Trong một buổi lễ long trọng, thường là ngày thứ 100 sau khi chết, các thân nhân thường thắp hương làm lễ cầu xin Bồ Tát hướng dẫn người chết đến cõi Cực lạc của Phật A Di Đà. Sau đó, một trong những thân nhân sẽ niệm một câu thần chú để gọi người chết trở về nghe chính pháp. Lễ này được chấm dứt với sự niệm danh Phật A Di Đà và Bồ Tát Địa Tạng một lần nữa.
 

Bài vị của các chân linh yên nghỉ tại Hoa viên tưởng niệm Thiên Đức được đặt trên ban Địa Tạng Vương Bồ Tát chuẩn bị làm lễ cầu siêtrong ngày Đại lễ Vu lan - 2017 được tổ chức thường niên tại Hoa viên Thiên Đức
 
       Từ Trung Quốc, Phật giáo truyền đến Triều Tiên. Qua ngõ Triều Tiên, Phật giáo truyền vào Nhật Bản đầu thế kỷ thứ VI TL. Trước khi Phật giáo truyền đến Nhật Bản, người dân nơi đây phần lớn tin theo Thần đạo. Họ tôn thờ nhiều vị thần linh. Khi Phật giáo du nhập và phát triển, dân chúng Nhật Bản đã lưu truyền nhiều câu chuyện về Bồ tát Địa Tạng như là hiện thân của vị Bồ tát chăm lo và cứu giúp những người bất hạnh và khổ đau. Họ tin rằng, Ngài luôn bảo hộ những lữ khách đi đường, phụ nữ có thai, người lính cứu hỏa… đặc biệt trẻ em bất hạnh.
 

Bồ Tát Địa Tạng rất thương yêu trẻ con và vì thế Ngài là vị Bồ Tát có một sứ mệnh rất đặc biệt là bảo vệ trẻ con
 
       Ngài luôn hiện thân để bảo vệ trẻ em bị ngược đãi, bạo hành trong gia đình và xã hội. Với những trẻ thơ bất hạnh yểu mạng, Ngài thường đến bên bờ sông Nại Hà, dòng sông mà tín ngưỡng dân gian Á Đông tin là linh hồn phải đi qua trước khi vào điện Diêm La nghe Diêm vương phán xét tội hình, an ủi và che chở các em. Nhiều người tin rằng, những trẻ em yểu mạng, vì thương nhớ cha mẹ và người thân, linh hồn các em thường ở lại bên bờ Nại Hà nhặt những viên đá cuội xây lâu đài và thành quách để tưởng đến người thân.
       Các em rất khổ sở vì nhớ cha, nhớ mẹ và nhớ anh chị, Bồ tát Địa Tạng thường đến bên các em vỗ về, an ủi và cùng các em nhặt đá xây thành, giúp các em tích tạo công đức, và đưa các em qua sông Nại Hà. Nhiều người khác lại tin rằng, các em có tội bất hiếu vì khiến cha mẹ và người thân đau buồn, nên các em bị hình phạt bên bờ Nại Hà, bị qủy dữ hiếp đáp, và Bồ-tát Địa Tạng thường hiện thân cứu giúp các em, đưa các em qua dòng sông Nại Hà. 

 

Bồ tát Địa Tạng thường hiện thân cứu giúp các em, đưa các em qua dòng sông Nại Hà. 

       Địa Tạng Vương Bồ Tát được tôn thờ rất trang nghiêm trong các chùa ở Việt Nam. Ngài là hiện thân của cứu nạn và cứu khổ cho chúng sinh ở đia ngục. Trong chánh điện các chùa tôn trí thờ Phật Thích Ca (tượng trưng cho Trí), Quán Thế Âm Bồ Tát (tượng trưng cho Bi) và Địa Tạng Vương Bồ Tát (tượng trung cho Dũng).  
 

Địa Tạng Vương Bồ Tát được tôn thờ rất trang nghiêm trong Chùa Thiên Long - thuộc Hoa viên tưởng niệm Thiên Đức
 
       Và sau Lễ Vu Lan Rằm tháng 7 AL thì các Chùa thường khai kinh Địa Tạng tụng cho đến ngày cúng vía Ngài vào cuối tháng 7 tức ngày 30. Việt Nam ta chưa có lưu hành và thọ trì Địa Tạng Sám pháp kinh, trong khi Hàn Quốc thì Kinh này rất thông dụng cho các chùa thường tổ chức cho quý Phật tử thọ trì Địa Tạng Sám pháp kinh.

       Hướng về ngày Vía Đức Bổn Tôn Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (30/7), người con Phật thể hiện tấm lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, noi gương Địa Tạng Vương Bồ Tát theo nguyện lực của Ngài: “Chúng sinh độ tận phương chứng Bồ đề. Địa ngục vị không thệ bất thành Phật” - "Chúng sinh độ hết rồi, tôi mới chứng bồ đề. Địa ngục chưa trống không, tôi thề không thành Phật…"

       Tụng Kinh địa tạng (xem tại đây)

       Bài cầu tăng cường nhân duyên sự nghiệp

       Trên đường lập nghiệp có biết bao khó khăn, trắc trở. Mỗi lần gặp vướng mắc, cảm thấy bất lực, mệt mỏi, hãy hướng tới Phật đọc bài khấn Phật giúp vượng sự nghiệp, coi như một liệu pháp tinh thần cho bản thân.
       Sự nghiệp hanh thông ngoài bản thân phấn đấu, nỗ lực không ngừng thì còn cần chút may mắn, quý nhân phù trợ. Vì thế bài khấn Phật giúp vượng sự nghiệp sẽ mang tới cho chúng Phật tử niềm tin, giải trừ nhân quả báo ứng, tích thêm thiện tâm, phúc báo mà tích cực hơn trong công việc.
       Hướng tới Địa Tạng Vương Bồ Tát khấn bài cầu tăng cường nhân duyên sự nghiệp, hi vọng rằng nguyện vọng sẽ trở thành sự thực. Cũng là một nơi gửi gắm tâm linh, tăng phúc, tăng thiện, để bản thân thả lỏng hơn.
       Bài khấn Địa Tạng Vương Bồ Tát như sau:
       Nam mô A di đà phật! Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát! Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đệ tử thật tình sám hối, cuộc sống, công tác, tình cảm không như ý là do bản thân kiếp trước, kiếp này bất hiếu với cha mẹ, không biết cảm ơn, tà dâm, keo kiệt, ghen tị, lười biếng, oán giận, hư vinh, thái độ làm việc không hợp chính, trốn tránh trách nhiệm dẫn tới quả báo.
       Lúc này đệ tử hướng tới tất cả Bồ Tát, Thiên Long hộ pháp, hướng tới tất thảy chúng sinh bị ta làm tổn thương mà sám hối. Đệ tử tiếc rằng, công tác không tốt, không thể cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ, đền đáp công ơn dưỡng dục. Thân là người trưởng thành, đệ tự cảm thấy công việc không phát triển, sầu muộn không thể tập trung học Phật. Cha mẹ lo lắng, bản thân sốt ruột, lơ là hướng Phật. Nay, đệ tử tìm tới cửa Phật, hướng đại bi đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát khẩn cầu nhân duyên công việc có khởi sắc. Đệ tử hi vọng trong công việc:
1. Cơ quan chính quy, không tạo ác nghiệp, nội dung công việc thích hợp, có thể đảm nhiệm, có thể làm việc lâu dài.
2. Công việc làm cha mẹ an tâm, không phải xã giao rượu thuốc.
3. Không quá mệt nhọc, không quá xa xôi, giao thông tiện lợi, có thời gian học Phật, làm việc thiện. 
4. Tiền lương thích hợp, có cơ hội tăng lương để nuôi dưỡng cha mẹ, cáng đáng việc nhà, có thừa làm việc thiện
5. Lãnh đạo nhân phẩm tốt, đồng nghiệp thân thiện, mọi người cùng nhau kết thiện duyên.

       Vì thế, ta nguyện:
1. Tụng 200 bộ “Địa Tạng Kinh”, “Tâm Kinh” 500 lần, thường xuyên niệm “A di đà Phật”.
2. Hiếu thuận tôn kính cha mẹ, quan tâm cha, giúp đỡ mẹ.
3. Ngày rằm, mùng 1 ăn chay, ngày thường ăn ít thịt, không ăn vật còn sống.
4. Phản tỉnh chính mình, tu sửa khuyết điểm, gắng kết thiện nghiệp, không sát sinh, không ăn trộm, không tà dâm, không ác khẩu, không hai lời, không nói dối, không tham lam, không ngu dốt, không ghen tị.
5. Tùy duyên phóng sinh, làm nhiều việc thiện, quyên tiền cúng dường.
6. Nỗ lực tu hành, dẫn đường trợ giúp người khác học Phật
7. Tu hành có tâm đắc ở thông linh phật giáo võng tuyên bố, cùng mọi người cùng nỗ lực phát huy Phật hiệu.
       Nam mô A di đà Phật! Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát! Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát! Nam mô thập phương tam thế hết thảy phật Bồ Tát! Hy vọng đệ tử cố gắng tu hành, đạt thành nguyện vọng.

       (Sưu tầm)