1
Bạn cần hỗ trợ?

Làm thế nào để thoát khổ trên nền tảng Tứ diệu đế đạo Phật

1. KHỔ ĐẾ  (Dukkha Ariyasacca) NÓI VỀ SỰ KHỔ Ở ĐỜI
Khổ không chỉ có nghĩa là cảm giác đau đớn, khổ nhọc thân, tâm mà còn chỉ trạng thái cảm thấy không yên ổn, không thỏa mãn những mong muốn trong lòng. Tư tưởng Phật giáo cho rằng, con người sinh ra ở đời là khổ: “Đời là bể khổ”. Từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt xuôi tay không có lúc nào hết khổ.
Vũ trụ tự nhiên thì luôn trong quá trình biến đổi Thành - Trụ - Hoại - Không. Về thân xác con người thì trải qua Sinh - Lão – Bệnh - Tử. Mà cả bốn quá trình ấy không khi nào xa lìa nỗi khổ:
1.1 - Sinh khổ (sinh ra là khổ),
1.2 - Lão khổ (quá trình già nua của thân thể là khổ),
1.3 - Bệnh khổ (có bệnh tật đau ốm là khổ),
1.4 - Tử khổ (chấm dứt sự sống là khổ).
Rồi sống trong cuộc sống xã hội cũng luôn có nỗi khổ:
         1.5 Sở cầu bất đắc khổ (mong muốn mà không đạt được là khổ) :  Chúng ta thường đặt câu hỏi "Không cầu sao làm được kinh doanh ?" , "không cầu sao sống được?". Nhưng với đạo Phật là hạnh phúc từng ngày và có 2 cách để vận hành : 
         + 1 người vận hành đặt ra mục tiêu và họ mong cầu thì phần lớn thời gian trong quá trình vận hành họ nhìn vào Mục tiêu và họ tập trung vào tâm mong cầu . Ví dụ : Đi bán hàng thị tập trung vào tâm mong cầu tức là kiếm được tiền của khách hàng. Cho nên hiệu quả không có cao, phần lớn 80% thời gian của họ dành cho cái tâm mong cầu và thời gian để tiêu cái sự mong cầu ấy, Và cái mong cầu vật chất là tầm thường. 
         + 1 người vận hành đặt ra mục tiêu và không mong cầu thì 100% thời gian họ dành cho các hoạt động hàng ngày còn việc đến được mục tiêu hay không thì còn là TÙY THUẬN hay chúng ta hay dùng từ Tùy duyên. 100% năng lượng họ hoạt động cho cái thời khắc hiện tại . Ví dụ : Họ gặp một khách hàng, họ làm tốt nhất cho khách hàng; Họ làm 1 ngày thì phải làm tốt nhất cái ngày đấy; họ làm 1 tuần thì cũng phải tốt nhất cái tuần đấy.... và họ làm một đời thì tốt nhất toàn thời gian đấy.
            Và cuối cùng thử hỏi với 2 cách này ai là người đến mục tiêu trước. 
           Cho nên trong đạo Phật mọi người nghĩ rằng không có tâm mong cầu thì có nghĩa là không làm được. Nhưng bản chất nếu biết áp dụng cái việc "không có tâm mong cầu" trong đạo Phật vào hoạt động kinh doanh thì lại rất là HIỆU QUẢ bởi vì họ màng lại GIÁ TRỊ từng thời khắc của chính bản thân họ cho những người xung quanh. Và như vậy, mọi sự tốt đẹp sẽ đến với họ. Chính vì vậy cái cách mà Phật đưa ra là cái cách "Không có tâm mong cầu" nhưng thực tế các kết quả vượt qua ngoài cái thành tựu 
           CẦU bất đắc KHỔ : vậy nhìn vào đây ai là người CẦU - là mình; ai là người KHỔ - cũng là mình; Vậy thì càng cầu nhiều thì càng khổ nhiều . Vậy bản chất là mình gieo khổ cho mình. Cho nên nếu như chúng ta không biết vận hành cuộc sống thì càng ngày chúng ta càng gieo cho mình những nỗi khố. 
 
         1.6 - Ái biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải xa lìa là khổ): Bạn yêu cái gì quá, bạn bám chấp vào nó và không còn nó nữa là bạn khổ, Bạn yêu tiền quá - dẫn đến không có tiền - bạn khổ; bạn yêu ánh sáng điện quá - không có điện - bạn khổ; Bạn yêu cái ô tô quá - không có cái ô tô - bạn khổ; Bạn yêu một cô gái quá  - cũng khổ;
       Vì vậy cái ÁI là mình gieo, cái KHỔ là mình nhận. Cho nên mọi thứ là TÙY THUẬN, thay vì yêu nó quá thì chúng ta hành động từ bây giờ, hãy quay lại Cầu bất đắc khổ - không cầu cái Ái nữa mà hàng ngày chúng ta phải cư xử với nhau tốt nhất thì cái ÁI ấy sẽ không BIỆT LY. Nhưng họ chỉ cầu rằng cô gái ấy ở bên mình cả đời nhưng họ ứng xử trong từng thời khắc không ra gì thì sao cái ÁI này họ có được. Mình sử dụng nguồn tiền mà sử dụng hoang phí thì sao cái tiền đó có được bên mình. Mình muốn có một không gian trong sạch mà mình yêu không gian thiên nhiên trong sạch - nhưng trong mỗi hành động của mình, mình phá rừng - rồi tự hỏi "Sao thời tiết lại nóng lên"  
        Vậy nên : Khi mình Yêu cái gì thì mình phải chăm lo cho cái đó từng thời khắc, chứ không phải mình yêu - mình phá - rồi mình chia tay - rồi mình khổ.  Bản chất : Ái  - cũng là mình ; Biệt ly - cũng là mình; Khổ - Cũng là mình. Vậy nguồn gốc đều là do Mình.  Mình gieo cho mình - Mình khổ - Mình oán trách. 
 
        1.7.- Oán tăng hội khổ (ghét thù nhau mà phải sống gần nhau là khổ): Ghét nhau - nhìn thấy mặt nhau - là Khổ; Mình ghét cái gì - mình nhìn thấy cái đó - là Khổ; Vậy thì cái "ghét" này do ai - do mình; cái "oán" này do ai - do mình; Vậy thì tự mình ghét xong rồi tự mình khổ; Tự mình bốc ghét - mình bỏ vào đầu - rồi tự mình khổ; Vậy thì ai ghét người khác thì cái người ghét đó khổ chứ người bị ghét có khổ đâu - họ cứ cười nhởn nhơ.
        Cho nên để ý thấy là : Xếp mắng quân, xếp ghét quân - là xếp khổ ; còn thằng quân thì cứ nhe răng ra cười.., em yêu xếp thế. Thế nên quân thì hạnh phúc - còn  xếp khổ. Nếu ngược lại: Xếp vừa mắng vừa khởi tâm yêu thương không có giận quân, nhưng mà quân lại cay cú; Vậy thì quân khổ thôi.
        Cho nên kẻ nào ghét những kẻ còn lại thì kẻ ấy khổ. Vì thế trong cuộc sống xuất hiện nhóm người tiêu cực, họ chủ yếu nhìn vào điểm xấu của kẻ khác và từ đó oán ghét những người xung quanh - tự họ gieo cái nỗi khổ cho họ. Vì vậy những người vui vẻ trong cuộc sống, gặp ai họ cũng vui vẻ thì thường những người đó trẻ lâu, ít nếp nhăn vì họ có khổ đâu, gặp ai họ cũng vui, gặp người xấu - cũng vui, gặp người tốt cũng - vui. Vậy nên trong cuộc sống nếu một người mắc sai lầm thì đừng có "oán" mà phải yêu thương hơn, với suy nghĩ tích cực hơn ... và mình bớt Khổ.

        1.8.  Ngũ thụ uẩn khổ hoặc Ngũ  ấm xí thạch khổ (năm giác quan tương tác với thế giới bên ngoài, thọ nhận tướng sắc của vật chất, bị hình tướng của vật chất che mất bản chất và mãi bị mê muội theo nó là khổ).
       - Mũi để ngửi :  Vậy thì mũi mình toàn ngửi thứ thơm tho, đến một ngày mũi ngửi mùi bớt thơm tho - thấy khó chịu. VD: Đứa cháu rúc vào lòng ông lúc ông đang nhiều mồ hôi, cháu thấy hôi không chơi với ông nữa.. như vậy cháu khổ, ông cũng khổ. Do vậy phải mở rộng biên độ ngửi, có thể chấp nhận được nhiều mùi, có như vậy mới bớt khổ. 
        - Mắt để nhìn : Một đứa trẻ mắt nhìn những thứ vui - thì nó vui; nhìn những thứ xấu xa - thì nó buồn, chán ; Vậy thì nếu mở rộng tầm mắt ra cho đứa trẻ nhìn thấy những thứ tráng lệ, hiện đại - để cho nó khát vọng; Nhìn những thứ xấu xa ngoài đời - để nó không bất ngờ và kỳ thị.  
        - Tai để nghe : Tai chỉ thích nghe những thứ ngon ngọt thôi, nịnh bợ thôi chứ ai thích nghe chửi. Vậy một đứa trẻ sinh ra mà mở rộng biên độ nghe - thì nó nghe được mọi thứ và cuộc đời nó không thấy khổ. 
        - Lưỡi để nếm, ăn : Một kẻ chỉ thích ăn ngon thôi - thì đỡ ngon là khổ; Những kẻ ăn được cay, đắng, ngọt, bùi... sống ở đâu chẳng được, sống ở đâu chẳng hạnh phúc ; 
        - Thân xác để cảm xúc  : Lạnh quá cũng khổ; nóng quá cũng khổ; vậy thì mọi người phải chủ động chịu lạnh đi, chịu nóng đi, cảm nhận những ấm cúng trong cuộc đời này đi. Thì họ sẽ thích nghi được mọi điều kiện trong cuộc sống thì đâu còn khổ 
         Vì vậy một đứa trẻ nằm ở biên độ ít của 5 ngũ căn này, một người luôn được hưởng mọi sự sung sướng của cuộc sống này, thì một lúc nào đó nó sẽ thu mình vào một căn. Bởi vì con người sống trong cộng đồng này, không ai có thể đem lại cho nó những thứ tốt nhất của ngũ căn. Cho nên con nhà giàu chỉ "hơi đỡ sướng thôi" là khổ, và một ngày nào đó nó đóng cửa không chơi với ai cả, vì nó thấy ai cũng có vấn đề, ai cũng mang lại sự đau khổ cho nó, và bắt đầu nó sinh ra TỰ KỶ. Và biểu hiện của con nhà giàu là tự kỷ rất nhiều, vì họ cho con họ sướng quá. Cho nên chủ động cho nó Khổ. Vì ĐỠ KHỔ sẽ SƯỚNG.
 
         Đó là tám nỗi khổ của con người mà Phật giáo gọi là Bát khổ. Theo quan niệm của Phật giáo thì những thứ khổ con người phải chịu là cái khổ trong tam giới và đều là nhân để đời sau phải chịu quả trầm luân vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì sinh tử thật là khổ, không ai không gặp, không ai chối bỏ được, nó như là cái hiển nhiên đối với con người, nên gọi là Khổ đế.

         2. TẬP ĐẾ (Samudayat Ariyasacca) NÓI VỀ NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ
         Tập có nghĩa là nhóm họp, gộp lại. Nếu quá khứ hay hiện tại con người không biết được đời là khổ, không biết vạn vật hữu hình hay vô hình chỉ là giả tạm, luôn biến đổi; không biết những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình sẽ gây ra nghiệp nên lần hồi cứ làm theo mãi, vì suy nghĩ và hành động xấu mà ngày càng huân tập, nhóm góp điều xấu, bị xô đẩy trôi lăn mãi trong sinh tử luân hồi, nên gọi là Tập. Đức Phật dạy rằng, vì vô mình che lấp nên con người không nhận ra thực tướng của vạn vật, rồi cứ tham đắm chạy theo cái hư ảo không vĩnh viễn đó nên tạo ra nghiệp. Đó là nguyên nhân của nỗi khổ. Trong đó, có ba thứ độc (tam độc): Tham (tham lam), Sân (giận, bực, nóng nảy), Si (ngu mờ, mê muội) là nguyên nhân chính nhất của nỗi khổ.
         2.1. THAM : Tham có nghĩa là : được nhận hơn những gì mình làm ra; Lấy của người ta thành của mình ; Mình làm 1 mà đòi ăn 2. 
         2.2.  SÂN : Nguyên tắc của THAM là khi không được thì họ SÂN hận
         2.3.  SI :  nhưng gốc của THAM lại là SI
         2.4.  MẠN : Coi thường kẻ khác, Gốc của Đạo Phật, thì mạn có mấy dòng mạn. Chỉ để cập đến Mạn lên thôi, Mình không phải giỏi cứ tưởng là mình giỏi. Giỏi quá nên sinh ra coi thường người khác và dẫn đến họ Khổ. Họ nghĩ là họ giỏi thì họ là càng có cái tâm mong Cầu, rồi từ cái tham này cũng có cái tâm mong Cầu, rồi họ Sân thì họ sinh ra Oán hận, rồi Si sinh ra yêu thương say đắm... Thế là khổ thôi. 
         2.5.  NGHI : Luôn nghi ngờ, không tin ai . VD: Hoạt động trong một doanh nghiệp, 1 ông xếp vừa tinh tướng (mạn) vừa không tin ai (nghi) về năng lực, không tin ai về sự trung thực. Dẫn tới ông chủ làm 1 mình. Đây là mô hình kinh doanh cửa hàng bán lẻ - cô chủ nhỏ và họ không phát triển được quá trình vận hành của doanh nghiệp mình. Rồi khi mà họ bỏ được cái "mạn, nghi" này đi thì họ lại sinh ra Ác kiến .
         Tất cả gốc của bệnh tham, sân, si, mạn, nghi đều sinh ra Cầu bất đắc khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Ngũ thụ uẩn khố. Cho nên Khổ lại càng khổ
         2.6.  ÁC KIẾN : Khi đạt đươc một chút thành tựu rồi, họ coi thân của mình hơn thân kẻ khác, muốn ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, đi xe đẹp hơn, và một loạt các cái thứ họ cho thân mình là cao quý và họ tiêu tốn tiền vào đó. Lúc này họ lại quay trở lại tham, sân, si. (Trong ác kiến: có Thân Kiến, Biên Kiến, Giới cấm Thủ Kiến, Tà Kiến) 
         Vậy nên gốc của bệnh nếu bỏ được Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi đi thì tất cả 8 nỗi khổ của khổ đế sẽ tiêu đi. Và chính những nguyên nhân của Tập đế gây nên Khổ đế . Vì thế mà chúng ta hãy nhìn vào Tập đế để vận hành . 
         Nếu diệt được tham, sân, si, mạn, nghi thì rõ ràng tâm của chúng ta định tâm, tâm không, an lạc, cuộc sống vô cùng hạnh phúc, chỉ còn đúng cái tâm yêu thương thôi, lúc đó bạn sẽ sống bình dân, nhẹ nhàng, chơi với ai cũng chơi được, bạn sống trong cộng đồng ở đâu cũng hạnh phúc. 

         Xét cho kỹ thì mọi việc làm thiện, ác (sẽ tạo ra các nghiệp) gắn liền với sinh tử trong tam giới mà con người không ai không vướng mắc, nên gọi là Tập đế.

         3. DIỆT ĐẾ (Nirodha Ariyasacca) nói về sự khổ bị tiêu diệt, được giải thoát.
       
Diệt tức là tịch diệt hay Niết bàn. Nghĩa là nghiệp đã hết không còn khổ lụy sinh tử luân hồi nữa. Khổ là mầm gốc của phiền não. Mà phiền não được diệt nên những nghiệp quả trong tam giới cũng diệt. Nếu các nghiệp phiền não trong tam giới đã diệt thì liền chứng đắc được cảnh giới Niết bàn (Hữu dư Niết bàn). Khi xả báo huyễn thân (nghĩa là chết), thân tứ đại không còn (nhà Phật dùng từ tịch hoặc tịch diệt hay nhập Niết bàn) cái khổ của đời sau không còn tương tục nữa, khi ấy gọi là Vô dư Niết bàn. Cảnh giới Niết bàn thật vắng lặng, tĩnh tịch và an lạc, đoạn diệt hết thảy hoặc nghiệp luân hồi nên gọi là Diệt đế.
     
         4. ĐẠO ĐẾ (Magga Ariyasacca) nói về phương pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ.
       Đạo là luân lý, là con đường đúng đắn, đạo còn có nghĩa là năng thông năng đạt, nó chính là những phương pháp, là con đường để cho chúng sinh theo đó mà tu tập để mong cầu vượt thoát khỏi trầm luân, khổ ải trong tam giới. Trong đó, Đức Phật chỉ ra tám con đường chính, bao gồm:
     4.1. Chánh kiến thấy biết chân chính (chính kiến), sống trong cuộc đời này phải biết ĐÚNG biết SAI. Thấy người khác đúng thì mình phải công nhận. Thấy người khác sai thì mình phải tuyệt đối không đồng ý với cái sai đó. VD: trong quá trình hoạt động doanh nghiệp, giữa quân với xếp, nếu mình thấy họ làm chưa đúng, thì có thể mình chưa nói bởi chưa đúng mới nằm ở tư duy của mình chưa tới, cho nên phải nín lại chứ đừng làm toáng lên là họ sai rồi. Cái chánh kiến của mình cho rằng mình đúng - nhưng chắc gì đã đúng. Vậy nên bạn có 2 sự lựa chọn : Nếu biết CHẮC ĐÚNG thì bạn nên chia sẻ giúp đỡ họ. Nếu CHƯA BIẾT chắc đấy là đúng thì bạn nên nín lại. Còn nếu biết CHẮC là HỌ SAI thì tìm cách giúp họ gỡ sai, chứ không phải chỉ ra cái sai của họ. thì đấy gọi là CHÁNH KIẾN. (Trong doanh nghiệp, chánh kiến chính là tư tưởng của chủ doanh nghiệp)
      4.2. CHÁNH TƯ DUY suy nghĩ chân chính (chính tư duy): Sau khi có chánh kiến rồi thì phải có chánh tư duy để thực hiện điều đó (Trong doanh nghiệp chánh tư duy chính là chiến lược để vận hành doanh nghiệp )
      4.3. CHÁNH NGỮ lời nói chân chính (chính ngữ): Trong quá trình nói đừng làm tổn thương ai cả. 
      4.4. CHÁNH NGHIỆP nghề nghiệp chân chính (chính nghiệp) : Đừng làm những nghề phi pháp về mặt đạo đức cũng như pháp luật 
      4.5. CHÁNH MẠNG  đời sống chân chính (chính mệnh); không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
      4.6. CHÁNH TÍNH TẤN siêng năng chân chính (chính tinh tiến): Khi làm là phải nhiệt tâm làm hết cỡ, và phải đo xem có tiến bộ không, (Bản chất của kinh doanh là ngày hôm nay phải hơn hôm qua - Tức là phải có sự phát triển) nên là làm cái gì cũng phải đo. 
      4.7. CHÁNH NIỆM tưởng nhớ chân chính (chính niệm): Từng thời khắc một chúng ta phải soi xét toàn bộ 6 quá trình trên mình đã làm đúng chưa. Soi lại 6 cái Chánh ở trên để chúng ta đi đúng đường thì đó là Chánh niệm
      4.8. CHÁNH ĐỊNH định tâm chân chính (chính định) : Làm lâu thành bản năng, không còn cái này đúng, cái kia sai nữa 

        Tám con đường chân chính ấy, Phật giáo gọi là Bát Chính đạo.
       Đạo đế có Ba mươi bẩy Phẩm trợ đạo và Bát Chính đạo nương trợ, tương hỗ với nhau chắc chắn có thể đưa chúng sinh vượt qua khổ ải, chứng nhập cảnh giới Niết bàn không hư dối, nên gọi là Đạo đế.
        Phật giáo chủ trương vừa lấy trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục để chuyển nghiệp đạt đến sự giải thoát. Tu hành để mong cầu giải thoát trong nhà Phật cũng có nhiều phương cách. Phật nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn, bất kỳ ai thấy khế hợp và phát nguyện tu tập theo một pháp môn nào thì đều có thể trở thành bậc giác ngộ giải thoát, vì Phật tính trong mọi chúng sinh là không khác nhau và mọi pháp môn đều đưa đến giác ngộ. Tuy nhiên, cho dù là pháp môn nào đi nữa thì cũng lấy Tam vô lậu học (Giới - Định - Tuệ) làm căn bản và cương yếu.
        Kinh sách Phật giáo thường ghi, vì lòng bi mẫn với chúng sinh, vì lòng thương tưởng với đời mà Đức Phật thị hiện ra ở cõi đời này. Ngài có mặt ở đời vì một đại nhân duyên là cứu khổ độ sinh. Như vậy, với Tứ Diệu đế, Phật giáo đã giải quyết vấn đề con người một cách rốt ráo, và Tứ Diệu đế cũng là giáo lý căn bản mà bất kỳ một người xuất gia học Phật dù thuộc hệ phái nào đều phải biết tới và tu tập theo để mong cầu giải thoát, chứng ngộ Niết bàn./.
+ Ngoài ra còn có: 37 phẩm trợ đạo là những phương pháp giúp những phật tử, người tu tập thực hành theo Pháp trên con đường tu tập để đạt đến Niết Bàn. 

Nguồn :  -  https://www.youtube.com/watch?v=k3mDqmTYYA0
               - Sưu tầm